Khoa học và công nghệ mở hướng bảo tồn, phát triển cây Cốt toái bổ

Chủ nhật, 13/09/2026 - 21:43

Từ nguồn dược liệu đang suy giảm ngoài tự nhiên, khoa học và công nghệ đã mở ra hướng nhân giống, phục hồi nguồn gen và phát triển sản phẩm từ cây Cốt toái bổ tại Lâm Đồng (Đắk Nông cũ).

Khoa học và công nghệ mở hướng bảo tồn, phát triển cây Cốt toái bổ- Ảnh 1.

Cốt toái bổ - vị thuốc quý được “săn lùng” vì công dụng tuyệt vời

Cốt toái bổ, còn gọi là Tắc kè đá, tên khoa học là Drynaria bonii Christ, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền. Do có giá trị kinh tế và nhu cầu tiêu thụ lớn, loài cây này đang bị khai thác tự phát, làm suy giảm nguồn tài nguyên trong tự nhiên. 

Cốt toái bổ hiện được xếp vào nhóm Sắp nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam và thuộc Nhóm IIA – loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Trước thực trạng đó, đề tài “Thử nghiệm nhân giống và phát triển sản phẩm từ cây Cốt toái bổ tại tỉnh Lâm Đồng (Đắk Nông cũ)” được triển khai nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ bảo tồn, phục hồi và phát triển bền vững nguồn gen quý này. Đề tài do PGS.TS. Lưu Hồng Trường, Viện Công nghệ Tiên tiến làm chủ nhiệm.

Nhóm nghiên cứu đã khảo sát hiện trạng phân bố, mức độ khai thác và nhu cầu tiêu thụ Cốt toái bổ tại ba khu vực trọng điểm gồm Vườn quốc gia Tà Đùng, Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và khu vực Thác Mơ.

Kết quả cho thấy nguồn Cốt toái bổ tại Vườn quốc gia Tà Đùng đang suy giảm nghiêm trọng do tình trạng khai thác kéo dài. Loài chỉ được ghi nhận trên 2 tuyến khảo sát, với mật độ trung bình dưới 5 cá thể/ha. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, mật độ phân bố duy trì ở mức khoảng 21,5 cá thể/ha.

Trong khi đó, khu vực Thác Mơ còn lưu giữ quần thể tự nhiên khá phong phú, với mật độ gần 85 cá thể/ha. Đây được xác định là nguồn gen bản địa quan trọng phục vụ công tác nhân giống và phục hồi Cốt toái bổ ngoài tự nhiên.

Kết quả điều tra cũng cho thấy Cốt toái bổ đứng thứ 11 trong số 275 loài cây thuốc được ưa chuộng và tiêu thụ nhiều nhất tại Đắk Nông cũ. Sản lượng tiêu thụ ước đạt khoảng 11,7 tấn dược liệu khô mỗi năm, tương đương khoảng 117 tấn nguyên liệu tươi khai thác từ tự nhiên.

Việc khai thác hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên hoang dã, trong đó tình trạng khai thác toàn cây vẫn diễn ra phổ biến. Các số liệu nghiên cứu không chỉ phản ánh áp lực đối với quần thể Cốt toái bổ mà còn cung cấp căn cứ để đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác nguồn dược liệu phù hợp.

Đề tài đồng thời ghi nhận những tri thức bản địa của đồng bào M’Nông trong sử dụng Cốt toái bổ để điều trị đau lưng, đau xương khớp, bong gân và gãy xương thông qua các bài thuốc ngâm rượu, sắc uống hoặc kết hợp với các vị thuốc dân gian khác. Đây là nguồn thông tin thực tiễn phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của cây dược liệu bản địa.

Điểm nổi bật của đề tài là tiếp thu quy trình nhân giống Cốt toái bổ bằng bào tử từ Đài Loan, đồng thời làm chủ và tối ưu hóa công nghệ phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. Kết quả, nhóm nghiên cứu đã sản xuất thành công 550 cây giống đạt tiêu chuẩn, vượt chỉ tiêu đăng ký ban đầu là 400 cây.

Các cây giống sinh trưởng đồng đều, cao từ 3-5 cm, có 2-5 lá thật, bộ rễ phát triển tốt và đủ điều kiện đưa ra trồng bảo tồn. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu phối hợp với Ban Quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng xây dựng mô hình phục hồi nguồn gen quy mô 1 ha tại tiểu khu 1803, thuộc sinh cảnh rừng tự nhiên ẩm dọc suối, phù hợp với đặc tính sinh thái của loài.

Toàn bộ 550 cây giống được gắn lên giá thể và trồng tại thực địa; mỗi cây gỗ lớn được bố trí từ 1-3 cá thể. Các cây giống đều được đánh mã số riêng để theo dõi quá trình sinh trưởng. Sau 4 tháng, tỷ lệ cây sống đạt 85%, tương ứng 468 cây, vượt yêu cầu nghiệm thu ban đầu.

Từ kết quả thực tế, nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật bảo tồn Cốt toái bổ, bao gồm các công đoạn từ gieo ươm bằng bào tử đến trồng phục hồi trong rừng tự nhiên. Việc làm chủ quy trình nhân giống giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cây khai thác tự nhiên, đồng thời tạo cơ sở để phục hồi quần thể tại những khu vực đang bị suy giảm.

Bên cạnh bảo tồn nguồn gen, đề tài còn đánh giá hoạt tính sinh học và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất cao chiết từ Cốt toái bổ. Quy trình chiết xuất được tối ưu bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM), đồng thời xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng đối với sản phẩm cao chiết. Quy trình đã được Hội đồng Khoa học của Viện Công nghệ Tiên tiến thẩm định và phê duyệt.

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được công bố trên Tạp chí quốc tế Biocatalysis and Agricultural Biotechnology, xếp hạng Q1 theo Scimago, góp phần khẳng định giá trị khoa học và khả năng ứng dụng của nhiệm vụ.

Theo đánh giá của Hội đồng, đề tài đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo thuyết minh được phê duyệt. Việc kết hợp các phương pháp thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, đa dạng sinh học, công nghệ tế bào và hóa dược đã tạo ra chuỗi kết quả từ điều tra nguồn tài nguyên, nhân giống, trồng phục hồi đến nghiên cứu sản phẩm cao chiết.

Kết quả đề tài cho thấy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc chuyển từ khai thác dược liệu tự nhiên sang chủ động bảo tồn nguồn gen, nhân giống và phát triển sản phẩm. Đây là cơ sở góp phần bảo vệ loài dược liệu quý đang bị đe dọa, đồng thời hướng tới khai thác bền vững và phát huy giá trị nguồn tài nguyên bản địa.

Trung tâm Truyền thông KH&CN

Giới thiệu doanh nghiệp

Cổng thông tin điện tử của các đơn vị thuộc Bộ