Vi sinh vật bản địa mở hướng kiểm soát bệnh thối đen quả ca cao

Bệnh thối đen quả do Phytophthora palmivora là một trong những tác nhân ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng ca cao. Việc nghiên cứu, tuyển chọn vi sinh vật đối kháng bản địa để phát triển chế phẩm sinh học vì vậy được xem là hướng tiếp cận có ý nghĩa, góp phần giải quyết bài toán sâu bệnh hại theo hướng phù hợp hơn với điều kiện sản xuất tại Đắk Lắk.

Vi sinh vật bản địa mở hướng kiểm soát bệnh thối đen quả ca cao- Ảnh 1.

Cây Ca cao

Ca cao là cây công nghiệp có giá trị kinh tế, được trồng tại một số khu vực của tỉnh. Toàn tỉnh có khoảng 1.200 ha ca cao; riêng khu vực Ea Kar có khoảng 1.000 ha, trong đó khoảng 600 ha đã cho thu hoạch. 

Một số vùng đã hình thành mô hình liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, từng bước nâng cao giá trị cây ca cao. Tuy nhiên, sâu bệnh hại vẫn là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng duy trì năng suất, chất lượng và hiệu quả của vùng trồng. 

Bệnh thối đen quả thường bắt đầu bằng những chấm nhỏ màu nâu, sau đó vết bệnh phát triển nhanh, chuyển sang màu đen và có thể bao kín bề mặt quả. Bệnh xuất hiện ở giai đoạn quả non có thể làm quả khô đen và vẫn dính trên cây; khi gây hại trên quả lớn có thể dẫn đến thối quả, hạt lép hoặc rụng quả. 

Kiểm soát bệnh hiệu quả đòi hỏi phải kết hợp nhiều biện pháp, từ lựa chọn cây giống khỏe, thiết kế hệ thống thoát nước, tỉa cành tạo độ thông thoáng đến vệ sinh vườn, thu gom và tiêu hủy quả bệnh. Biện pháp sinh học sử dụng vi sinh vật đối kháng đã được đưa vào quy trình phòng trừ tổng hợp, cho thấy cơ sở thực tiễn của hướng nghiên cứu này.

Tuy nhiên, hiệu quả của một chế phẩm sinh học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính của chủng vi sinh vật, khả năng thích nghi với môi trường, quy trình nhân sinh khối, điều kiện bảo quản và phương thức sử dụng. Do đó, việc tìm kiếm và tuyển chọn các chủng vi sinh vật bản địa có khả năng đối kháng với Phytophthora palmivora là bước quan trọng để xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện sinh thái và canh tác tại địa phương.

Nhiệm vụ “Nghiên cứu tuyển chọn và ứng dụng vi sinh vật đối kháng bản địa nhằm kiểm soát bệnh thối đen quả ca cao do nấm Phytophthora palmivora tại các vùng trồng chính ở Đắk Lắk” do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đăng ký chủ trì, TS. Nguyễn Viết Trụ làm chủ nhiệm, dự kiến thực hiện trong 36 tháng. 

Theo thuyết minh, nhóm nghiên cứu sẽ điều tra tình hình phát sinh và mức độ gây hại của bệnh tại các vùng trồng ca cao; thu thập mẫu, phân lập, tuyển chọn và định danh các chủng vi sinh vật đối kháng bản địa. Những chủng có tiềm năng sẽ được đánh giá khả năng kiểm soát bệnh lần lượt trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng ruộng.

Cách tiếp cận này tạo thành một quá trình nghiên cứu tương đối đầy đủ, từ xác định vấn đề trong sản xuất đến sàng lọc tác nhân sinh học và kiểm chứng hiệu quả trong thực tế. Kết quả trong phòng thí nghiệm giúp lựa chọn ban đầu các chủng có hoạt tính đối kháng; thử nghiệm trong nhà lưới đánh giá tác động trên cây trong điều kiện kiểm soát; còn mô hình ngoài đồng ruộng sẽ cung cấp cơ sở để xem xét khả năng ứng dụng tại vùng trồng.

Giá trị của nhiệm vụ không chỉ nằm ở việc tìm được vi sinh vật có khả năng đối kháng với tác nhân gây bệnh, mà còn ở yêu cầu chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có thể sử dụng. Vì vậy, nhóm nghiên cứu dự kiến xây dựng quy trình nhân sinh khối, bảo quản và phát triển chế phẩm vi sinh vật đối kháng dạng vi bao.

Công nghệ vi bao được nghiên cứu với mục tiêu nâng cao độ ổn định của chế phẩm trong quá trình bảo quản và sử dụng. Đây là khâu quan trọng để đưa chủng vi sinh vật từ quy mô phòng thí nghiệm sang dạng sản phẩm có khả năng thử nghiệm trong điều kiện sản xuất.

Nhiệm vụ đặt mục tiêu tuyển chọn từ 2-3 chủng vi sinh vật đối kháng có khả năng kiểm soát Phytophthora palmivora; xây dựng 1 quy trình ứng dụng vi sinh vật đối kháng bản địa; sản xuất 25 kg/25 lít chế phẩm dạng vi bao và xây dựng mô hình thử nghiệm trên diện tích 5.000 m².

Mô hình thử nghiệm sẽ giúp đánh giá khả năng kiểm soát bệnh, tính ổn định của chế phẩm và sự phù hợp của quy trình sử dụng trong điều kiện canh tác thực tế. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, xem xét khả năng chuyển giao và nhân rộng nếu các chỉ tiêu đặt ra được đáp ứng.

Việc ứng dụng vi sinh vật đối kháng không được xem là giải pháp riêng lẻ thay thế hoàn toàn các biện pháp khác. Hướng phù hợp là kết hợp chế phẩm sinh học với vệ sinh vườn, quản lý nước, tỉa cành tạo độ thông thoáng và các biện pháp kỹ thuật cần thiết để hình thành quy trình kiểm soát bệnh tổng hợp.

Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh đã góp ý hoàn thiện mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm và phương án ứng dụng, chuyển giao kết quả. Đây là những yêu cầu cần thiết để bảo đảm nhiệm vụ vừa có tính khoa học, vừa bám sát điều kiện sản xuất ca cao trên địa bàn.

Nhiệm vụ hiện ở giai đoạn tư vấn tuyển chọn nên các chủng vi sinh vật, quy trình, chế phẩm và mô hình mới là sản phẩm dự kiến, cần được kiểm chứng trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu cho thấy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc khai thác nguồn vi sinh vật bản địa, tạo giải pháp sinh học cho cây trồng và gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tế của sản xuất nông nghiệp.

Trung tâm Truyền thông KH&CN