Khoa học và công nghệ mở chuỗi giá trị mới cho cây cau xứ Quảng

Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật từ khâu giống, canh tác, tận dụng phụ phẩm đến tổ chức sản xuất và phát triển du lịch đang mở ra hướng nâng cao giá trị cây cau tại vùng Tiên Phước, khu vực Quảng Nam trước đây. Những kết quả bước đầu cho thấy khoa học và công nghệ không chỉ giúp cải thiện chất lượng vùng nguyên liệu mà còn tạo thêm sản phẩm, việc làm và nâng cao năng lực của các hợp tác xã.

Khoa học và công nghệ mở chuỗi giá trị mới cho cây cau xứ Quảng- Ảnh 1.

Giá cau tăng cao, người dân phấn khởi

Cây cau gắn bó lâu đời với đời sống và cảnh quan làng quê xứ Quảng, đặc biệt tại vùng trung du Tiên Phước. Tuy nhiên, sản xuất cau trong nhiều năm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của từng hộ. Người dân thường tự chọn hạt từ những cây có buồng đẹp để làm giống, bố trí khoảng cách trồng theo cảm quan và chăm sóc tùy theo điều kiện gia đình. Sản phẩm chính vẫn là quả cau tươi bán cho thương lái, khiến thu nhập phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường.

Dự án “Xây dựng mô hình phát triển chuỗi giá trị cau bền vững và nâng cao năng lực hợp tác xã” do Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam triển khai đang góp phần thay đổi phương thức sản xuất này. Thay vì chỉ quan tâm đến sản lượng quả, dự án tiếp cận cây cau theo một chuỗi giá trị tương đối toàn diện, bắt đầu từ bảo tồn nguồn giống, chuẩn hóa kỹ thuật canh tác, tổ chức vùng nguyên liệu, phát triển sản phẩm từ phụ phẩm và kết nối với du lịch nông thôn.

Một trong những nội dung quan trọng là bảo tồn, phục tráng giống cau dài Tiên Phước. Đây là giống cau có hình dáng đẹp, chất lượng tốt và được thị trường ưa chuộng, nhưng nguồn giống trong cộng đồng chưa được quản lý đồng bộ. Nếu hạt giống được thu hái tự phát, cây con dễ có sự khác biệt về sức sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả, ảnh hưởng đến hiệu quả của cả chu kỳ sản xuất kéo dài hàng chục năm.

Từ yêu cầu đó, các cây đầu dòng được lựa chọn dựa trên những tiêu chí cụ thể như khả năng sinh trưởng, năng suất buồng, hình dáng quả và tính ổn định qua nhiều vụ. Hạt giống sau khi phân loại, xử lý được gieo trong điều kiện kiểm soát về độ ẩm và sâu bệnh. Mỗi lô cây con được theo dõi trước khi xuất vườn, tạo cơ sở quản lý nguồn gốc giống và từng bước tiến tới truy xuất vùng nguyên liệu.

Vườn ươm của Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Đất Quảng đang được hoàn thiện nhà lưới và hệ thống tưới nhằm cung ứng cây giống đạt yêu cầu cho vùng trồng. Việc đưa hợp tác xã tham gia ngay từ khâu sản xuất giống có ý nghĩa quan trọng, giúp chuyển hoạt động nhân giống từ kinh nghiệm riêng lẻ sang quy trình có kiểm soát, đồng thời tạo đầu mối cung ứng giống thống nhất cho người dân.

Cùng với nguồn giống, người trồng cau được hướng dẫn xác định mật độ, chuẩn bị đất, bón phân, quản lý nguồn nước và chăm sóc theo từng giai đoạn sinh trưởng. Những kiến thức này giúp người dân hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về năng suất và chất lượng giữa các khu vườn, từ đó chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất.

Tại xã Thạnh Bình, một số hộ đã quy hoạch lại vườn và đăng ký tham gia mô hình trồng mới. Có hộ dành 2.000m² để trồng giống cau dài Tiên Phước theo mật độ được hướng dẫn. Một mô hình khác có diện tích 1,25ha đã trồng hơn 2.000 cây cau và được hỗ trợ lắp đặt hệ thống tưới tự động trị giá hơn 100 triệu đồng.

Điểm mới của mô hình là tổ chức vườn theo cấu trúc nhiều tầng. Cau được bố trí ở tầng cao, cây ăn quả như ổi và chuối ở tầng giữa, cây dược liệu và thảm thực vật phù hợp được trồng dưới thấp. Cách bố trí này giúp khai thác phần đất dưới tán cau, tăng độ che phủ, giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và tạo thêm nguồn thu trong thời gian chờ cau cho quả.

Hệ thống tưới được thiết kế để phục vụ đồng thời cây cau, cây ăn quả và dược liệu, giúp duy trì độ ẩm trong mùa khô và sử dụng nước chủ động hơn. Mô hình đa tầng cũng góp phần phân tán rủi ro, bởi thu nhập của người dân không còn phụ thuộc hoàn toàn vào một sản phẩm và một thời điểm thu hoạch.

Toàn xã Thạnh Bình hiện có hơn 300ha cau. Dự án đã thu hút 32 hộ tham gia, hình thành hai mô hình trồng mới với tổng quy mô 6ha tại khu vực An Sơn và mô hình cau sinh thái kết hợp du lịch rộng 2ha tại Lộc Yên, Bình Yên. Quy mô này chưa lớn so với toàn vùng nhưng có ý nghĩa thử nghiệm, giúp đánh giá sự phù hợp của quy trình kỹ thuật trước khi xem xét nhân rộng.

Khoa học và công nghệ còn được ứng dụng để khai thác giá trị của mo cau, loại phụ phẩm trước đây thường bị bỏ lại trong vườn hoặc đốt bỏ. Qua xử lý và tạo hình, mo cau được chế tác thành túi xách, giỏ, mũ, dép, thùng rác, tấm lót ly, hoa trang trí và nhiều đồ dùng thân thiện với môi trường. Nhờ đó, giá trị của cây cau được mở rộng từ quả sang phụ phẩm, từng bước hình thành vòng tuần hoàn từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu dùng.

Hơn 200 học viên tại Thạnh Bình đã được đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ từ mo cau. Nghề này phù hợp với phụ nữ và lao động lớn tuổi vì có thể thực hiện tại nhà, chủ động thời gian và tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ. Tuy nhiên, để sản phẩm trở thành hàng hóa ổn định, người sản xuất cần tuân thủ yêu cầu về xử lý nguyên liệu, kích thước, mẫu mã, độ bền và chất lượng hoàn thiện.

Hợp tác xã Cau xanh Đất Quảng đang đảm nhận vai trò kết nối các khâu của chuỗi sản xuất, từ tổ chức thu gom nguyên liệu, hỗ trợ dụng cụ, hướng dẫn kỹ thuật, thống nhất mẫu mã đến kiểm soát chất lượng và tìm kiếm thị trường. Đây là bước chuyển quan trọng về năng lực tổ chức sản xuất. Thay vì mỗi hộ tự làm và tự tìm đầu ra, hợp tác xã trở thành đầu mối tập hợp người lao động, điều phối đơn hàng và xây dựng thương hiệu chung.

Thạnh Bình hiện có 9 sản phẩm OCOP, trong đó túi xách mo cau đã được công nhận đạt chuẩn 3 sao. Hợp tác xã đặt mục tiêu tiếp tục hoàn thiện bao bì, cải tiến mẫu mã và nâng hạng hai sản phẩm lên OCOP 4 sao. Việc phát triển sản phẩm OCOP tạo điều kiện chuẩn hóa chất lượng, nâng cao khả năng nhận diện và đưa câu chuyện về cây cau, nghề thủ công cùng văn hóa xứ Quảng đến với thị trường rộng hơn.

Chuỗi giá trị cau còn được mở rộng sang du lịch sinh thái. Hơn 50 hộ dân đã được tập huấn về chỉnh trang vườn, quy hoạch lối đi và bố trí cây trồng để hình thành không gian trải nghiệm. Những hàng cau xanh, nhà cổ, bờ đá, vườn cây và nghề làm sản phẩm từ mo cau có thể kết nối thành một sản phẩm du lịch mang đặc trưng riêng của vùng Lộc Yên.

Du khách đến đây không chỉ tham quan cảnh quan mà còn có thể tìm hiểu quy trình trồng cau, trải nghiệm làm đồ thủ công, thưởng thức ẩm thực và mua sản phẩm OCOP. Khi nông nghiệp gắn với du lịch, giá trị của vườn cau không còn chỉ được tính bằng sản lượng quả mà còn được tạo ra từ cảnh quan, văn hóa, sản phẩm chế biến và dịch vụ trải nghiệm.

Kết quả bước đầu của dự án cho thấy vai trò của khoa học và công nghệ được thể hiện trên toàn bộ chuỗi giá trị. Khoa học giúp nhận diện và bảo tồn nguồn giống tốt; kỹ thuật canh tác giúp sử dụng đất, nước và dinh dưỡng hiệu quả hơn; công nghệ xử lý nguyên liệu biến phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị; còn mô hình hợp tác xã giúp tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn và kết nối người dân với thị trường.

Để chuỗi giá trị phát triển bền vững, các mô hình cần tiếp tục được theo dõi qua nhiều vụ sản xuất, nhất là các chỉ tiêu về sinh trưởng, năng suất, chất lượng quả, chi phí đầu tư và hiệu quả của phương thức trồng xen. Sản phẩm từ mo cau cũng cần được hoàn thiện về công nghệ xử lý độ ẩm, phòng chống nấm mốc, thiết kế, bao bì và tiêu chuẩn chất lượng nhằm đáp ứng những thị trường có yêu cầu cao.

Từ một loại cây chủ yếu được trồng để bán quả tươi, cau Tiên Phước đang được tiếp cận như một nguồn tài nguyên đa giá trị. Việc kết hợp khoa học và công nghệ với tri thức bản địa, năng lực của hợp tác xã, sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn đang tạo nền tảng để hình thành chuỗi sản xuất bền vững hơn, nâng cao thu nhập cho người dân và gìn giữ cảnh quan đặc trưng của vùng trung du xứ Quảng.

Trung tâm Truyền thông KH&CN